Trí tuệ vi tế 6 – Con Đường Trí Tuệ

Hộ trì 5 – Con Đường Trí Tuệ
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp học, mỗi người có thể có thái độ/chọn lựa cho mình. Như đứng trước cội cây gồm gốc, ngọn, thân, lá. Việc chọn lựa này coi chừng là khiếm khuyết, ngộ nhận. Bởi vì mỗi phần của cội cây đó có giá trị riêng, ta không thể tách rời bất cứ cái nào cả. Có 7 yếu tố như dòng nhựa nuôi dưỡng cội cây vậy. Chúng là những giá trị tinh thần nuôi dưỡng nội tâm bằng sự cảm nhận của chính mỗi người, sẽ mang lại cho mình kinh nghiệm, mối giao hòa giữa ta với thế giới sâu sắc hơn nhiều khi thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát. 7 yếu tố này gồm 3 yếu tố động, 3 yếu tố tĩnh và 1 yếu tố cân bằng: đưa đến Trí Tuệ và Thanh tịnh, hỗ trợ 3 giới học,…Đó là niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả. 7 yếu tố này luôn có sẵn trong mỗi người, có thể luyện từng yếu tố và đôi khi nó là một tiến trình.
1. Niệm là ghi nhận kịp thời rõ ràng và như thật trực tiếp, trung thực, không đối chiếu, so sánh, vô tư, không thông qua chấp thủ, bám víu, lệch lạc nào cả của thân tâm trong từng giây phút: ta thấy được sự tự do của tâm hồn – là nhân tố tương hỗ và phát triển 6 yếu tố còn lại một cách kịp thời và cần thiết trong đời sống, ngay cả với ái tình – cân bằng các yếu tố còn lại làm nội tâm được quân bình: khi sợ hãi và lo lắng, chính niệm sẽ đưa tâm ta về trạng thái cân bằng, dù thử thách có ra sao đi nữa thì ta vẫn điềm tĩnh. Nhưng khi nội tâm yên tĩnh quá mức thì đưa đến thụ động thì niệm sẽ đưa trí tuệ và trạch pháp có mặt để kéo tâm về mức quân bình, hoặc khi nội tâm quá năng động thì niệm sẽ làm định xuất hiện làm tâm bình hòa.
Một nội tâm thiếu niệm sẽ dễ dàng bị cuốn hút vào: gặp điều ta thích thì bám víu/mê đắm, gặp điều bất toại nóng giận/sân hận. Nếu gặp nhạt nhẽo, vô vị, chán chường thì phản ứng bất mãn, tiêu cực, thụ động. Cứ thế nội tâm ta là một nỗi khổ đau và phiền não. Nếu có niệm, ta làm chủ được bằng cái nhìn trung thực, đời sống trí tuệ và thanh tịnh.
Niệm luôn hiện hữu trong đời sống hàng ngày và ngay cả khi ta ở một mình sẽ mang lại cho ta sự bình an, tự do.
Niệm có thể nhìn rõ bất cứ gì hiện xung quanh, chúng ra sao thì đúng như vậy, ta cảnh giác trọn vẹn và hữu hiệu.
Đã nhiều lần trong cuộc sống: đi, đứng, nằm, ngồi và ta đã gây ra bao nhiêu tội lỗi mà không nhớ gì hết. Lối sống xô bồ, tạp nhạp đó nối nhau và gây ra nhiều phiền não, đau khổ, sợ hãi, lo âu cho ta. Khi trở về thiện niệm, ta mới sống trọn vẹn với chính mình mà thôi, có thêm những sức mạnh mới với niềm vui kỳ lạ, chẳng cần mong đợi nhưng công việc vẫn trôi chảy, trong từng phút ta đã gặt hái biết bao là thành quả, sống thận trọng và biết mình trọn vẹn.
Nếu thất niệm thì tâm sẽ lang thang, tưởng tượng, nghĩ ngợi lung tung dễ nghĩ làm việc xấu/bất thiện.
Niệm là trở về với thực tại ở đây và bây giờ, bỏ tà theo chánh và tương hỗ, cùng đi với 6 yếu tố còn lại.
Niệm an trụ/ghi nhận 4 chỗ: thân, cảm nhận đối tượng, tâm, đối tượng.
Niệm tăng khả năng kiểm soát, quân bình tín và tuệ, tấn và định.
Niệm ổn định trong 3 thắng học: giới, định, tuệ
Niệm kết hợp keo sơn với tầm (suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng, tìm kiếm đối tượng, đưa tâm đến cảnh), đi đầu của tứ (quan sát, diệt nghi ngờ) tạo hỷ lạc khi thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát.
Niệm đồng hành với sáng suốt khi thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát sẽ thấy ra chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối.
Niệm theo dõi, rà soát suy tưởng (tùy niệm)
Niệm còn có mức độ cao hơn, khắng khít hơn: chăm chuyên, không lơ là, tinh cần, không phóng dật.
Niệm cấp độ cao hơn nữa là nhẹ nhàng, tự nhiên từ thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát: giúp ta nhanh chóng có kinh nghiệm sinh tồn và tiến hóa.

2. Trạch pháp là giúp ta xem xét lại kinh sách, lời dạy của vị thầy nào đó, không cho phép chấp nhận lý thuyết, mô phỏng, giáo điều nào cả, mà vạch ra cho ta con đường tự vấn, là rất quan trọng với một mình ta rà soát lại với những gì vẫn được xem là kinh điển, đối diện với những gì ta chưa được thấu đáo, ước muốn trả lời những câu hỏi sâu sắc nhất trong đời sống. Với nhiều người, kinh nghiệm là cả ân sủng, thời gian, trải nghiệm. Nhưng thật ra, cuộc sống là cả quá trình khám phá, nhìn thẳng vào các kinh nghiệm, trải qua nhiều giai đoạn của hoài nghi, thậm chí là bối rối/hoãn loạn của nội tâm, đối diện với nhiều thử thách. Nhưng chính điều đó giúp bản thân hiểu rõ được và khả dĩ chấp nhận và tự do. Khi đó, đời sống luôn trình bày bản chất của nó, ta chỉ việc trông thấy mà thôi. Nó dạy ta về đau khổ, vô thường, vô ngã và rỗng không. Khi trạch pháp có mặt thì tăm tối sẽ biến mất, bản chất thiện ác trong chính nội tâm mình. Ta cần mở lòng mình, vì từ trong bóng tối của nội tâm chất chứa với những âu lo, chấp thủ, những đau khổ sâu kín nhất được biểu hiện và điều đó nghĩa là những sự thật được chứng nghiệm. Cuộc sống luôn có câu hỏi cho ta và tùy theo sự xem xét/trình độ. Đặc biệt có thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát hay không.
Là chia chẻ, phân tích, mổ xẻ. Trí tuệ hay hiểu biết đúng như thật về duyên khởi, về vô thường, vô ngã, về khổ, rỗng không được trực tiếp kinh nghiệm, được trực tiếp sống, được trực tiếp bổ sung và hoàn thiện trong những tình huống khác nhau sống động của cuộc sống. Trí tuệ hay hiểu biết như thật không phải do nghe và tư duy mà do thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát kiểm nghiệm, bổ sung, hoàn thiện sẽ đưa đến trạch pháp.
Trạch pháp phải dựa trên kiến và tư duy.
Trạch pháp hỗ trợ cho tư duy để học hỏi/tìm kiếm/phân tích đúng sai, xấu/tốt, thiện/bất thiện, chánh tà thuộc thế gian/thế tình và hỗ trợ cho ta thấy ra về chân lý tuyệt đối.

3. Tinh tấn là sự nỗ lực trong tâm mà không phản ứng với ngoại cảnh, nhìn đối tượng bên ngoài khách quan, thật sự cố gắng chú niệm, dốc sức trong thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát vì đời sống rất cần mỗi lúc, mỗi nơi. Sự nỗ lực giúp ta đối trị với tất cả những gì là bất an. Ta càng nỗ lực bền bỉ thì càng gia tăng sức mạnh nội tâm lên, mang đến giá trị tinh thần lẫn thể xác. Tất cả tư thế đều nhẹ nhàng, đọc được tất cả bản chất của mình.
– Nỗ lực duy trì những thiện pháp đã thành tựu nơi bản thân để ngày càng tăng trưởng hơn. Những điều tốt lành, ta giữ lại để ngày một tăng thêm.
– Từ bỏ những gì ác xấu/bất thiện trong tâm hồn bằng sự thấu đáo trực diện với chúng. Thấy ham muốn là phiền phức cần loại bỏ nó hơn, cái nhìn sâu sắc để hướng đến bình an
– Gây tạo những việc thiện nào ta chưa đạt đúng mức như thiếu tình thương với tha nhân, bố thí.
– Đề phòng ác pháp/bất thiện: cẩn trọng và lưu tâm những trường hợp nó xuất hiện để kịp thời ngăn chặn và tự vệ nội tâm.
Là khi trạch pháp được tu tập đi đến viên mãn thì hiểu biết về khổ, nguyên nhân khổ, chấm dứt khổ và con đường chấm dứt khổ ngày càng rõ ràng minh bạch. Kinh nghiệm được chấm dứt khổ càng sâu sắc. Do thấy như vậy, biết như vậy mà tinh tấn không thụ động khởi lên.

4. Hỷ là pháp luyện với tâm vui vẻ. Tất cả mọi thứ đến rồi đi, trong khi ta có nhiều hồi ức trỗi dậy từ sôi động đến buồn tẻ, niềm vui hay đau khổ. Mà hỷ là mở rộng tâm hồn bằng tất cả thú vị đứng trước các bài học kỳ diệu như một niềm vui lớn, có thể an nhiên sống giữa đời một cách hào hứng, cảm giác tự tin, có ra sao ta cũng phải thử. Cơ sở hỷ là lối sống khoáng đạt, mà đời sống chỉ là vỡ kịch và giúp ta đánh giá vỡ kịch đó, cái gì rồi cũng ra đi, kỷ niệm là không quan trọng, chủ yếu là ta có thái độ ra sao với cuộc chơi ngắn ngủi này, học được bài học nào từ đó hay chưa, hãy sống vui vẻ trí tuệ giữa cuộc đời phù du này, nhưng niềm vui dù sao cũng cần thiết. Khi nội tâm càng tĩnh lặng thì hỷ càng sung mãn hơn, niềm hạnh phúc đó ngoài sức tưởng tượng, dâng trào nhưng tinh khiết khác hẳn những thú vui, khoái lạc bình thường. Hỷ này có trực quan cảm nhận tốt và thú vị tuyệt vời.
Là hoàn hỉ, thích thú, giúp tâm thích đối tượng. Khi hỷ xuất hiện thì không có tham, sân hận.
Hỷ ồn ào, thô tháo của thế gian và ganh ghét, đố kỵ: nên lưu ý làm thui chột hỷ thiện trong mình.
Các hỷ thế gian đều nương nhờ vật chất, dục ái. Hỷ thật sự tự có ở trong tâm ta.

5. Khinh an là biết nhìn lại trong sâu thẳm tâm hồn về bình yên, từ đó ta mới lắng nghe trọn vẹn thế giới quanh mình, đồng thời thành tựu trí tuệ trong chính nội tâm. Nhưng để nuôi dưỡng sự yên tĩnh đó của tâm hồn, ta cần an định thân được dàn xếp trong sinh hoạt thường ngày và dành ra thời gian cho riêng mình là môi trường trưởng dưỡng cho tâm hồn ta. Rốt ráo là không còn dính mắc, phân biệt giữa thương và ghét, thích và bất mãn bằng buông bỏ dần dự tính, vọng tưởng bằng tự chủ, tự tại, sáng suốt, rỗng lặng, tâm mát mẻ.
Là lắng dịu phiền não, ái dục – một trạng thái vắng lặng tham sân si, vắng lặng khổ, vắng lặng cả hạnh phúc lẫn khổ đau – yên tĩnh, nhẹ nhàng, thư thái. Do vắng lặng cả hạnh phúc lẫn khổ đau nên những nội xúc xảy ra nơi các cơ quan nội tạng làm phát sinh cảm giác dễ chịu, lâng lâng hạnh phúc. Cảm giác khó chịu, nặng nề của khổ đau không còn nữa, vì vậy mà thân tâm được khinh an.

6. Định là sự tập trung tư tưởng khi ý thức nhắm ngay vào đối tượng một cách chuyên chú. Định luôn mang lại một sức mạnh lớn cho tinh thần. Một nội tâm có định sẽ có khả năng chi phối thân tâm, trí tuệ và tư duy có thể vươn tới sâu rộng hơn. Với định tâm hồn yên ổn, lúc này ta có thể bắt đầu theo dõi dòng chảy của tư tưởng trong từng giây phút để xem chúng sinh ra, tồn tại và biến mất ra sao, không những có thể thấy được nội tâm mà còn thấy được những thay đổi bên ngoài trên dòng sinh diệt liên tục.
Đối trị với tham dục, luyến ái đang diễn ra là rất khó khăn, nhưng nhờ thực hành Tĩnh lặng và Tuệ quan sát giúp ta vững bước an hòa, sáng suốt. Khi định đã thuần thục, ta dễ dàng vượt qua những chướng ngại và giúp ta ngày càng tiến bộ hơn. Mọi áo tưởng tan biến, cho ta hiểu biết thật sự về hiện tại và nội tâm tự do, triệt tiêu dần dần phiền não
Là khi thân tâm được khinh an, tâm sẽ định tĩnh vì luôn luôn ở trong định trong mọi tư thế, mọi lúc, mọi nơi.
Ai cũng có định cả khi làm việc. Tuy nhiên cần chú ý định nào lợi ích và định nào gây tác hại. Định có tuệ thì tâm không loạn, làm gì cũng thành tựu, nếu huân tập thì giúp ta có sức mạnh có thể vượt qua khó khăn bất trắc, tình cảnh trái ngang, tương giao giữa cuộc đời không bị loạn, lo âu, sợ hãi, vững vàng, ổn định.

7. Xả là sức mạnh nội tâm giúp ta có thể bình tĩnh trước những biến động của thân tâm và sống phơi mở hơn, không bị kẹt trong những âu lo, ước muốn. Đó là thái độ sống bao dung theo nghĩa rộng nhất, tự chủ và khách quan với những gì đến, an nhiên. Sự an nhiên này giúp ta có thể dấn thân vào những đau khổ mà không hề biết tới sợ hãi. Kinh nghiệm này giúp ta hiểu được những phản ứng, ước vọng, thú vui nhạt nhẽo của từng khía cạnh đời sống, ta mới thấm thía các phản ứng xảy ra với đối tượng bên ngoài. Tất cả những tình cảm tốt xấu, đam mê đến nỗi sợ hãi đều là tạm bợ bằng ảo tưởng tôi, cho tôi, của tôi. Người ta thường hiểu lầm, với trạng thái đó là chai lì, vô cảm, mà thật sự là năng lực rất tích cực đủ để xây dựng nên những tâm hồn vĩ đại, vô ngại trước những thử thách của đời sống, lợi tha và tỉnh thức. Đối cảnh vô hại. Khi ta đã lắng dịu từ nội tâm, ta nhìn ra bản chất thật sự của mình từ những ngộ nhận, tham sân si, cũng như thấy rõ phản ứng của mình là gây ra đau khổ.
Là khi an trú với sự có mặt của niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an và định thì sẽ phát sinh một thái độ bình thản, không nắm giữ, không xua đuổi, không yêu thích, không chán ghét, độc lập, không ràng buộc, không hệ luỵ với mọi đối tượng.

Con Đường Trí Tuệ
Giải thoát là giải thoát khỏi tham sân si, phiền não, hỉ nộ ái ố,..
Vô thường, vô ngã là để nuôi sống vạn vật, để nuôi dưỡng thân tâm mỗi người từ bên trong.
Sự khác biệt giữa học và hành: càng học nhiều ta càng nắm chặt kinh điển và càng hành thì càng buông bỏ kinh điển. Còn sự giống nhau là cùng so sánh, cùng hợp thành chân lý.
Không có niệm thì không có trí tuệ và từ bi

.
.
.
.